Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Chí Trai Việt

Từ thuở đem gươm đi mở cõi,
Đã nào chuốc thẹn với non sông.
Lạc Hồng Đinh Triệu khơi khơi mạch,
Lê Lý Trần Lê nối nối dòng.
Trăm độ voi ngà kinh lũ Hán,
Vạn mùa cọc gỗ khiếp bầy Mông.
Chẳng e đồng trụ gì rêu mốc,
Chỉ nhớ Đằng Giang nước vẫn hồng.

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Tảo Khởi - Thái Thuận

早起
三千客夢曲肱餘, 一瓣清香數卷書。
院宇蛩聲霜落後, 池塘梅影月斜初。
燈前賓主留殘夜, 分外功名付太虛。
村北村南雞喔喔, 仰瞻星斗整朝裾。

Tảo Khởi

Tam thiên khách mộng khúc quăng dư,
Nhất biện thanh hương sổ quyển thư.
Viện vũ cùng thanh sương lạc hậu,
Trì đường mai ảnh nguyệt tà sơ.
Đăng tiền tân chủ lưu tàn dạ,
Phận ngoại công danh phó thái hư.
Thôn bắc thôn nam kê ác ác,
Ngưỡng chiêm tinh đấu chỉnh triều cư.

Dịch nghĩa : 

Ba ngàn giấc mượn cũng chỉ là lẻ một cánh tay gối, ( ngủ chi cho mộng lắm )
Một mảnh thoang thoảng hương thơm, mấy quyển sách thư. ( thắp nhang giở sách ra phê )
Hiên sân có tiếng dế kêu, sương chầm chậm rơi, ( thức từ chập tối đến nửa khuya )
Ao nước có bóng mai, ánh trăng mới chếch. ( thức từ nửa khuya đến mờ sáng )
Khách và chủ trước đèn như vẫn lưu giữ đêm tàn, ( chủ khách cùng cặm cụi )
Công danh sự nghiệp phận ngoài thì phó mặc vào cơ trời hư ảo. ( thành bại mặc do trời )
Thôn nam thôn bắc gà le te gáy, ( trời sáng )
Ngẩn mặt nhìn trời sao, vuốt lại vạt triều phục. ( chuẩn bị vào triều )

Dịch thơ :

Dậy sớm

Giấc mượn ba ngàn tay gối lẻ,
Một bàu thơm thoảng mấy bàu thơ.
Hiên cây tiếng dế sương rơi chậm,
Vuông nước thân mai nguyệt ghếch hờ.
Trước nến đêm tàn ghim khách chủ,
Ngoại dòng hư ảo mặc công cơ.
Xóm nam xóm bắc gà te tác,
Ngẩn mặt trông sao luống áo rờ.

Ngu Cơ biệt Hạng Vũ - Thái Thuận - Tiến Sĩ Lê Triều

虞姬別項羽

關河四塞月如霜, 戰馬無聲夜未央。
但恨君王時不利, 紅顏薄分妾何傷。

Ngu Cơ biệt Hạng Vũ

Quan hà tứ tái nguyệt như sương,
Chiến mã vô thanh dạ vị ương.
Đãn hận quân vương thì bất lợi,
Hồng nhan bạc phận thiếp hà thương ?!

Dịch nghĩa :

Ngu Cơ từ biệt Hạng Vũ

Bốn mặt quan hà trăng sương như cùng mờ mịt,
Ngựa chiến đã im tiếng, đêm chưa qua nửa thời.
Những chỉ hận thân quân vương đang cơn nguy khốn,
Chứ má hồng phận mỏng như thiếp có gì mà đáng xót thương ?!

Dịch thơ :

Ngu Cơ từ biệt Hạng Vũ

Quan hà bốn lộ nguyệt sương phơi,
Chửa vãn đêm canh ngựa bặt lời.
Chỉ hận quân vương giờ bước khốn,
Má hồng phận thiếp xót gì nơi ?!

Nhạn Thanh - Thái Thuận - Tiến sĩ Lê triều

雁聲
蔡順

起恨驚愁四散飛, 歌臺底事到來稀。 

角殘始咯天涯去?  鐘定還聞北塞歸。 
孤戍向回秋杳杳, 長門望斷夜依依。 
不知客淚能多少, 又向潇湘送落暉?  

Nhạn Thanh

Thái Thuận

Khởi hận kinh sầu tứ tán phi, 

Ca đài để sự đáo lai hi ? 
Giác tàn thủy lạc thiên nhai khứ, 
Chung định hoàn văn bắc tái quy. 
Cô thú hướng hồi thu diểu diểu, 
Trường môn vọng đoạn dạ y y. 
Bất tri khách lệ năng đa thiểu, 
Hựu hướng Tiêu Tương tống lạc huy ?  

Dịch nghĩa :   


Tiếng chim Nhạn  


Xông bốn phía mà tán loạn bay lên như thức oán động sầu, 

Nơi sân hát vì cớ gì mà tới ít ỏi vậy ? 
Tiếng tù và muộn vừa mới rúc lên, đã thấy bỏ đi phía chân trời, 
Tiếng chuông ngân dứt, vừa mới vang lên một lần nữa thì đã thấy bay về phương ải bắc. 
Nơi đồn trấn lẻ loi thưa đáp cùng màu thu thăm thẳm, 
Chốn cửa Trường ánh mắt hút chìm vào màn tối bịn rịn lưu luyến.
Không biết người khách có được những bao nhiêu nước mắt, 
Mà lại hướng về phía con sông Tương bồi tiễn ánh nắng chiều ?  

Dịch thơ : 


Tiếng Nhạn  


Nhấc oán động hờn xông bốn phía, 

Bởi nào sân hát tới còn hoe ? 
Chớm hồi kèn muộn chân trời tếch, 
Nối tiếng chuông ngưng ải bắc về. 
Đồn lẻ thưa cùng thu ngút thẳm, 
Cửa Trường trông miết tối sầu le. 
Chẳng hay khách có đà bao lệ, 
Lại hướng sông Tương tiễn nắng nhòe ?

---  


Tán nhằng :  


"Ca đài để sự đáo lai hi ?"  


Bình thời sân hát này vốn chẳng còn ai lui tới, chỉ còn chăng là lũ chim nhạn này thôi. Nay cớ gì lại bỏ đi nốt, khách nhớ chuyện cũ Trường Môn, hỏi rằng chăng có bao nhiêu nước mắt khóc cho cái sự cô đơn này ?!



Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

Diên Hựu Tự - Huyền Quang Thiền Sư




延祐寺
玄光禪師

上方秋夜一鐘闌, 月色如波楓樹丹。
鴟吻倒眠方鏡冷, 塔光雙峙玉尖寒。
萬緣不擾城遮俗, 半點無憂眼放寬。
參透是非平等相, 魔宮佛國好生觀?!

Diên Hựu Tự
Huyền Quang Thiền Sư

Thượng phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan.
Si vẫn đảo miên phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan? !

Dịch nghĩa :

Chùa Diên Hựu

Đêm thu phía trên cao một tiếng chuông muộn,
Vẻ trăng như sóng gợn trên tán cây phong đỏ thắm.
Bóng Si Vẫn như xoay ngang trên mặt nước ao vuông lành lạnh,
Ánh Phù Đồ hai ngọn dựng song song như hai ngón tay gầy.
Vạn thứ duyên đời không nhiễu loạn nổi bức thành đang ngăn cách tục lụy,
Nửa vết bụi hoen chẳng phiền rầu nổi tầm mắt đang mở phóng rộng ra.
Nếu xem suốt tất thảy thuộc về hai chữ Thị - Phi kia đều cùng như nhau một dạng,
Thì cả nơi Ma cung với Phật quốc có được bao nhiêu cách nhìn, quan niệm, tâm thức... ?!

Dịch thơ :

Chùa Diên Hựu

Đêm thu một tiếng chuông rơi vẳng,
Phong thắm dập dờn bóng nguyệt xây.
Miệng cú ngả nằm vuông nước lạnh,
Ánh đồ đôi dựng búp tay gầy.
Muôn duyên chẳng nhiễu bờ ngăn lụy,
Nửa mối khôn buồn mắt dõi ngay.
Biết rõ thị phi đều một dạng,
Cung Ma nước Phật pháp bao tày ?!

---

- Si vẫn - 鴟吻 - Mỏ chim cú. 

Là vật bằng gốm, trang trí 2 bên trên đỉnh nóc nhà.  Tạo hình có rất nhiều vẻ, nhưng tựu chung đều có cái dáng nhọn nhọn khoằm khoằm như mỏ con chim cú.









- Tán nhằng :

Ở hai câu :

"Si vẫn đảo miên phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn."

Si Vẫn nguyên bản thì vẫn đứng thẳng, nhưng qua ánh trăng chiếu tới mặt ao thì đã thành như xoay ngang. Hình tượng này khiến liên tưởng tới bàn tay của đức Quan Âm xoay ngang khum khum đỡ bình Cam Lộ.

Ánh trăng chiếu lên hai ngọn tháp làm chúng sáng bừng lên, nhìn dáng chĩa thẳng lên trời lại liên tưởng đến bàn tay kia của đức Quan Âm đang bắt quyết chỉ lên hai ngón tay trỏ và ngón tay út.

Vậy thì "Thị" và "Phi" đâu có thể xét với cùng một dạng được. Sự nó vậy mà chưa hẳn đã là vậy. Nếu "Tâm" không vững, "Thức" không ngay, thì Ma cung hay Phật quốc cũng chẳng thể nào phân biệt nổi.